Vương Nghiêu (王尧) Bình luận về các nhà văn đương đại Trung Quốc

00:37 |
Vương Nghiêu sinh tháng 4 năm 1960, tiến sĩ văn học, giáo sư đặc cách phong(Distinguished Professor), học giả Trường Giang bộ giáo dục quốc gia Trung Quốc, viện trưởng viện Văn học, chủ nhiệm hội đồng khoa học Đại học Tô Châu. Học giả phỏng vấn Harvard – Yanjing. Kiêm nhiệm thành viên ban biên tập tạp chí “Bình luận văn học” nghiên cứu văn học viện khoa học xã hội Trung Quốc, nghiên cứu viên trung tâm nghiên cứu văn học mới Đại học Nam Kinh bộ giáo dục, phó chủ tịch hiệp hội các nhà bình luận văn nghệ tỉnh Giang Tô, phó hội trưởng hội nghiên cứu văn học đương đại tỉnh Giang Tô…

Chủ yếu nghiên cứu văn hóa tư tưởng và văn học hiện đương đại Trung Quốc, công trình gồm có Những năm 80 với tư cách là vấn đề, Lịch sử tản văn đương đại Trung Quốc, Vào sinh ra tử trong Hán ngữ, Tự sự và giải thích của cách mạng đối với phong trào Ngũ tứ và “văn nghệ hiện đại”, Lịch sử đó đây (?), Tu từ của “sự kiện tư tưởng”, Ghi chép về đối thoại giữa Mạc Ngôn và Vương Nghiêu,

Chủ biên bộ sách Đại hệ văn học cách mạng văn hóa, Đại hệ phê bình văn học đương đại Trung Quốc , Tủ sách Nghiên cứu văn học hiện đại Trung Quốc hải ngoại, Ghi chép đối thoại nhân văn mới…, ngoài ra còn có các tập tản văn tùy bút như Tìm kiếm văn mĩ, Không gian hỗn tạp, Cởi bỏ áo khoác của văn hóa, Những năm 80 của một cá nhân và Phần tử trí thức trên giấy…. Chuyên gia đầu ngành hạng mục quan trọng quỹ khoa học xã hội quốc gia, từng đạt Giải thưởng hạng mục nhà bình luận văn học của Giải truyền thông văn học Hoa ngữ, giải thưởng văn học Tử Kim Sơn, giải thưởng tản văn Tử Kim Sơn, giải thưởng thành quả ưu tú trong nghiên cứu khoa học xã hội triết học và giải thưởng khoa học giáo dục nhân văn tỉnh Giang Tô… Từng diễn giảng học thuật ở Đại học Harvard, Đại học Stanford, Đại học Newyork, Đại học Wisconsin phân hiệu Madison, Maryland, Tokyo…

Cuốn "Hán ngữ chi tử - Bình luận về các nhà văn đương đại Trung Quốc" của ông cuối năm 2016   được dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại Việt Nam. Cuốn sách này là tập hợp các bài viết đặc sắc về một số gương mặt tiêu biểu của văn học đương đại Trung Quốc, như Mạc Ngôn, Dư Hoa, Lý Nhuệ, Cao Hiểu Thanh, Vương An Ức...

Mục lục cuốn sách
 Thay lời tựa: Sự sinh thành, phát triển và chuyển hướng của phê bình văn học đương đại Trung Quốc 
1. Chu Dương và văn học thời kì mới
2. Từ Cao lương đỏ đến Đàn hương hình – Phỏng vấn Mạc Ngôn
3. Xuất phát từ văn học sử của một cá nhân hay là từ điểm mờ của văn học sử - Bình luận về tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa và những vấn đề liên quan
4. Đọc lại Phế đô và bàn về trí thức những năm 90
5. Tu từ của “sự kiện tư tưởng”- Bút kí đọc Thời đại khai sáng của Vương An Ức
6. Vấn đề Trung Quốc trong Đất dày - Bàn về Lý Nhuệ
7. Triết học và thi học sinh trưởng trong quan hệ căng thẳng giữa cá nhân và thời đại - Ghi chú 8hi đọc về Trương Vĩ
8. Về văn chương cận kì của Diệp Triệu Ngôn và các thứ khác
9. “Người giằng co với vĩnh hằng”  - Cách Ngạn Vọng bàn về Dư Quang Trung
10. Chuyển đổi diễn ngôn của phần tử trí thức và tản văn của Dư Thu Vũ
- kiêm bàn về “Đại tản văn văn hóa”
11. Trần Hoán Sinh chiến thuật: Sáng tạo và nhược điểm của Cao Hiểu Thanh
          Đọc lại “Loạt tiểu thuyết Trần Hoán Sinh”

12. Nhà thơ trữ tình cổ điển Trung Quốc cuối cùng - Lại bàn về tản văn của Uông Tăng Kỳ
(tư liệu do tác giả cung cấp)
Xem tiếp…

Lâm Ngữ Đường – Vì Sao Tôi Trở Lại Với Cơ Đốc Giáo

22:23 |

LamNguDuong

Lời Ban Biên Tập

Lâm Ngữ Đường (1895-1976) là một học giả, một nhà văn, và là một nhà tư tưởng nổi tiếng người Trung Hoa.  Sinh ra trong một gia đình mục sư nghèo, đông con, Lâm Ngữ Đường  may mắn hơn các anh em trong gia đình được theo học đại học. Sau khi tốt nghiệp tại St. John College, một trường đại học Tin Lành tại Thượng Hải, Lâm Ngữ Đường được một học bổng bán phần theo học tiến sĩ tại Đại Học Harvard (Hoa Kỳ). Sau một thời gian tại Harvard, vì không có khả năng trả nổi phần học phí còn lại, Lâm Ngữ Đường đã nghỉ học, làm việc cho Hiệp Hội Thanh Niên Cơ Đốc (Young Men’s Christian Association  - YMCA), và được cử sang Pháp giúp những người Trung Hoa đang lao động tại đó. Năm 1921, nhờ tiền Đức mất giá, học phí rẻ hơn những nước khác, Lâm Ngữ Đường sang Đức hoàn thành việc học và tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại Học Leipzig (Đức).
Sau khi tốt nghiệp, Lâm Ngữ Đường trở về nước.  Ông từng làm giáo sư tại Đại Học Bắc Kinh, Giám Đốc Học Vụ tại Đại Học Hạ Môn, Viện Trưởng đầu tiên của Viện Đại Học Quốc Gia Nanyang (Singapore) và là Giám Đốc Phân Bộ Văn Hóa Nghệ Thuật (UNESCO) của Liên Hiệp Quốc.
Là một học giả lỗi lạc của Trung Hoa, Lâm Ngữ Đường viết rất nhiều sách phân tích, phê bình, giới thiệu nghệ thuật, văn hóa và triết học Trung Hoa.  Hơn 30 tác phẩm của ông đã được xuất bản trong tiếng Anh; một số ít đã được dịch sang tiếng Việt, trong đó có Sống Đẹp (1964), Tình Sử Võ Tắc Thiên (1981), Trung Hoa Đất Nước Con Người (2001), Hội Họa Trung Hoa Qua Lời Các Vĩ Nhân Và Danh Họa (2005). Lâm Ngữ Đường cũng là một nhà tư tưởng nổi tiếng.  Ông là một trong số ít người hiểu rất rõ triết học của Đông Phương lẫn Tây Phương và có thể phân tích quan niệm của Lão Tử, Khổng Tử, Đức Phật tới Rene Descartes, Emmanuel Kant, Blaise Pascal, Baruch Spinoza một cách sâu sắc.
Mặc dầu được sinh ra trong một gia đình theo Cơ Đốc giáo và cha là mục sư, khi lớn lên, Lâm Ngữ Đường chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân bản và tinh thần quốc gia dân tộc nên ông đã từ bỏ niềm tin Cơ Đốc, tìm đến với Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo.  Trong thời gian đó, Lâm Ngữ Đường đã viết rất nhiều sách phổ biến những tư tưởng triết học Á Đông. Sau nhiều năm nghiên cứu, phân tích, cổ vũ tư tưởng của những tôn giáo này, Lâm Ngữ Đường cho biết ông không tìm thấy hướng đi cho cuộc đời mình. Sau đó Lâm Ngữ Đường đã trở lại với Kinh Thánh, quay lại với Cơ Đốc giáo, và đặt niềm tin của ông nơi Đức Chúa Giê-xu.
Lâm Ngữ Đường thuật lại kinh nghiệm trở về với Chúa của mình trong bài viết Vì Sao Tôi Trở Lại Với Cơ Đốc Giáo, được đăng trong tờ Presbyterian Life xuất bản ngày 15-4-1959.  Thư Viện Tin Lành xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Vì Sao Tôi Trở Lại Với Cơ Đốc Giáo
Nhiều người đã hỏi tôi – có người hỏi với giọng vui sướng, có người với vẻ thất vọng – rằng, tại sao một người từng kể mình là người vô đạo như tôi lại trở về với Cơ Đốc giáo? Tôi trở về với đức tin Cơ Đốc và gia nhập Hội Thánh của Chúa là vì tôi muốn quay về với ý thức về Thượng Đế và tình yêu của Ngài mà Chúa Giê-xu đã mặc khải cho tôi cách đơn giản và rõ ràng.
Câu hỏi quan trọng nhất trong đời sống là: Con người có thể sống mà không cần đến tôn giáo hay không? Trong hơn ba mươi năm, tôn giáo duy nhất của tôi là chủ nghĩa nhân bản (humanism), hay nói đúng hơn là quan niệm của Khổng giáo về cuộc đời. Quan niệm này cho rằng nhờ giáo dục, con người có thể làm cho mình trở nên người toàn thiện. Đây cũng là quan niệm chủ trương rằng con người thừa sức để giải quyết những vấn đề của chính mình.
Bây giờ thì tôi tin rằng nếu không có tôn giáo, con người không thể nào sống còn. Con người không thể nào, và sẽ chẳng bao giờ có thể tự giải quyết vấn đề của chính mình, và tôn giáo nào dựa vào khả năng tự trở thành toàn thiện để cứu giúp người thì chưa thể kể là tôn giáo.
Con người cần được nối kết với một Sức Mạnh ở bên ngoài và lớn hơn chính mình. Tôi tin rằng đức tin Cơ Đốc, qua sự mặc khải của Chúa Cứu Thế, đã cung ứng cho con người con đường duy nhất dẫn đến Thượng Đế. Và tôi cũng phải công nhận rằng, khi tinh thần vô tôn giáo và chủ nghĩa vật chất gia tăng, thì tinh thần của con người cũng băng hoại và yếu mòn. Chính tôi đã chứng kiến những hành động tệ hại của một quốc gia sống mà không kể gì đến Thượng Đế.
Đến đây có lẽ tôi cũng nên nói qua về chính mình tôi để quý vị rõ. Gia đình tôi theo Cơ Đốc giáo đã ba đời. Cha tôi là mục sư của Hội Trưởng Lão. Ông làm mục sư tại một làng nằm trong miền núi hẻo lánh, gần cửa khẩu Hạ Môn, thuộc vùng biển Đông Nam của Trung Quốc. Nơi chúng tôi sống là một thung lũng có núi bao bọc chung quanh, cũng chính vì thế mà người ta gọi làng tôi là “cái hồ.”
Thời thơ ấu của tôi thật tươi đẹp, tôi được sống gần với Chúa, bên cạnh thiên nhiên hùng vĩ mà Ngài đã tạo dựng. Tôi được thưởng thức vẻ đẹp của những đám mây phủ trên các đỉnh núi cao, đồng cỏ xanh ngát dưới ánh hoàng hôn, tiếng róc rách của dòng suối nhỏ. Những kỷ niệm này ảnh hưởng đến niềm tin của tôi rất nhiều, nó làm tôi chán ghét tất cả những gì giả tạo, phiền toái và nhỏ bé.
Khi tôi còn nhỏ, gia đình tôi sống đơn sơ, nhưng đầy tình thương. Anh chị em chúng tôi không được phép cãi nhau, và thật vậy, chúng tôi chẳng bao giờ cãi nhau. Trong nhà ai cũng ham học, ai cũng muốn học hành đến nơi đến chốn. Nhưng lúc đó, mới đầu thế kỷ hai mươi, Từ Hi Thái Hậu còn cầm quyền tại Trung Quốc. Cha tôi nói với chúng tôi giọng nửa đùa nửa thật rằng, ông hy vọng một ngày kia tôi sẽ được du học ở Đại Học Berlin hoặc Oxford. Gia đình chúng tôi thường hay mơ ước những chuyện viển vông như thế.
Sau đó ít lâu, một biến cố xảy ra trong gia đình đã tạo ảnh hưởng sâu đậm trong đời tôi. Người chị thứ hai của tôi, rất thông minh và hiền hậu, muốn đi học đại học, nhưng ở Trung Hoa lúc đó việc học hành là của con trai chứ ít ai nghĩ đến cho con gái. Hơn nữa, cha tôi chỉ có thể lo cho một người ăn học mà thôi. Vì thế, năm 21 tuổi, chị tôi đi lấy chồng. Tôi còn nhớ ngày hôm đó, tôi và chị tôi cùng xuôi một chuyến đò: chị đi về nhà chồng, còn tôi lên Thượng Hải để vào đại học. Lúc chia tay, chị tôi lấy trong túi chiếc áo cưới bốn mươi đồng bạc, giúi vào tay tôi, vừa khóc vừa nói: “Chị là con gái, không được đi học, còn em, được đi học đại học, đừng lãng phí cơ hội. Em ráng học để mai kia trở nên một người tốt, hữu dụng và nổi tiếng.”
Hai năm sau, chị tôi chết vì bệnh dịch hạch. Bốn mươi đồng chị cho tôi đã tiêu hết, nhưng những lời chị nhắn nhủ, tôi chẳng bao giờ quên! Lên Thượng Hải, tôi chọn ngành thần học để ra làm mục sư, nhưng chẳng biết vì sao, tôi cảm thấy môn thần học thật là vô nghĩa, và tôi đâm ra chán, không muốn học nữa. Nghĩ rằng nên thành thật với chính mình là hơn, nên tôi bỏ ý định làm mục sư. Và dù vẫn còn lòng tin nơi Chúa, tôi cũng bỏ, không đi nhà thờ nữa! Từ đó những ảnh hưởng chung quanh tôi đã khiến tôi trở thành người ngoại đạo.
Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi lên Bắc Kinh để đi dạy. Cũng như bao nhiêu sinh viên khác ở trường thần học ra, tiếng Trung Hoa của tôi rất kém. Tôi cũng không biết nhiều về văn học dân gian, và là tín đồ Tin Lành lúc đó, tôi không được phép nghe nhạc đời. Mỗi khi đi ngang qua rạp hát, chúng tôi phải nhìn thẳng phía trước mà đi, không được lảng vảng gần những nơi ấy. Hồi nhỏ, tôi biết chuyện Giô-suê thổi kèn làm cho tường thành Giê-ri-cô sụp đổ, nhưng chẳng ai kể cho tôi nghe chuyện nước mắt của nàng Mạnh Khương làm trôi một góc Vạn Lý Trường Thành!
Tiếp xúc với một xã hội Trung Hoa thật sự với tất cả những hào nhoáng của Bắc Kinh, tôi thấy xấu hổ trước sự dốt nát của mình nên tôi đã lao đầu vào việc nghiên cứu văn chương và triết học Trung Quốc. Tuy nhiên, đối với người được trưởng dưỡng trong một gia đình “đạo dòng” như tôi, đó không phải là chuyện dễ. Tôi lo sợ khi phải bước ra khỏi thế giới có Chúa bao bọc để bước vào một thế giới hoàn toàn ngoại giáo.
Nhưng rồi một người bạn của tôi, một nhà trí thức theo đường lối giáo dục mới đã thu hút tôi với chủ trương “nhân chi sơ tính bản thiện” của Nho giáo! Tôi biết rằng, Đức Khổng Tử đã dạy con người thà chết lành hơn sống dữ! Mạnh Tử cũng đã nói: “Tôi yêu đời sống nhưng cũng yêu lẽ phải, nếu không thể có cả hai, tôi sẽ sẵn sàng hy sinh đời sống để được lẽ phải.” Đó là căn bản của chủ nghĩa nhân bản: cậy vào sức mạnh và lý trí để nâng cao và cải thiện chính mình, rồi sau đó cải thiện cả thế giới! Đây cũng là chủ trương của những nhà duy lý trong thế kỷ 18 (theo tôi, chủ trương nầy cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều của Nho giáo) như Voltaire, Diderot, Leibnitz. Đây là thời đại mệnh danh là Thời Đại Khai Sáng. Chủ thuyết nầy đã làm thỏa mãn tâm hồn tôi suốt nhiều năm.
Nhưng rồi qua kinh nghiệm và những phút suy tư, tôi thấy hình như có một cái gì bất an bắt đầu xâm chiếm tâm hồn. Tôi nhận thấy rằng Thời Đại Khai Sáng theo chủ nghĩa nhân bản đã nảy sinh ra chủ nghĩa vật chất. Niềm tin tưởng vào chính mình gia tăng, nhưng niềm tin đó không làm con người trở nên thánh thiện hơn. Con người có thể tài giỏi hơn, nhưng càng ngày con người càng mất đi tính mềm mại, khiêm tốn của một người đứng trước sự hiện diện của Thượng Đế. Lịch sử hiện đại chỉ cho tôi thấy rõ rằng, thiếu đức khiêm tốn ấy, con người dù rất tiến bộ về kỹ thuật và vật chất, đã trở nên những con người dã man và tàn ác.
Vì càng ngày càng không thỏa lòng với chủ nghĩa nhân bản, tôi luôn luôn tự hỏi: “Có tôn giáo nào trên đời này có thể đáp ứng được niềm khao khát của những người văn minh học thức không?” Cũng giống như chủ nghĩa nhân bản, Nho giáo với tất cả những giáo huấn đạo đức cao siêu, vẫn không đủ để cải thiện con người vì đã nhiều lần, nhiều cách, con người chứng tỏ rằng mình không tốt đẹp chút nào. Phật giáo, là đạo từ bi, đặt căn bản trên triết lý cho rằng tất cả những gì có thể cảm biết được trên đời này chỉ là ảo ảnh. Điều hay nhất và điều duy nhất mà Phật giáo có thể cống hiến cho đời là cho con người biết rằng: “Đời là bể khổ!” Triết lý của Lão giáo thì rất gần với Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giê-xu. Tuy nhiên, chủ trương trở về với thiên nhiên và chữ “nhàn” của Lão giáo chẳng những không thích hợp với đời sống văn minh mà cũng không giải quyết được vấn đề của con người hiện đại.
Có lẽ trong thời gian này, đức tin của thời thơ ấu đã sống lại trong tiềm thức tôi. Trong những năm đó, mỗi lần chúng tôi di chuyển đến nơi nào, vợ tôi cũng tìm đến nhà thờ để đi lễ. Thỉnh thoảng tôi cũng đi theo. Dầu vậy, mỗi lần ở nhà thờ về, tôi cảm thấy thất vọng hơn là phấn khởi. Tôi không thể nào chịu nổi khi phải nghe một bài giảng quá dở. Tôi khó chịu mỗi khi nghe vị mục sư nói về tội lỗi, địa ngục và diêm sinh trong hồ lửa. Cuối cùng tôi tự nhủ sẽ chẳng bao giờ trở lại nhà thờ nữa!
Nhưng  rồi một Chúa Nhật nọ, khi đang ở New York, vợ tôi lại rủ tôi đi nhà thờ. Vợ tôi thuyết phục tôi bằng cách nói rằng “Anh có thể không đồng ý với nội dung bài giảng, nhưng thế nào cũng phải cảm phục văn chương và tài hùng biện của vị mục sư này!” Lúc đầu tôi ngần ngừ nhưng cuối cùng tôi quyết định đi. Đó là nhà thờ Hội Trưởng Lão ở đường Madison, và vị mục sư là Tiến sĩ David Read.
Văn chương của Tiến sĩ Read thật hay và cách ông trình bày bài giảng thật khéo, nhưng đó không phải là lý do chính khiến tôi thích bài thuyết giảng hôm ấy. Sáng hôm đó ông nói về sự sống vĩnh cửu và tôi chăm chú theo dõi từng lời từng tiếng. Đối với tôi, thiên đàng không có gì hấp dẫn nếu đó chỉ là nơi mà ta sẽ sống đời đời để ca tụng Chúa, là nơi mà mọi sự đều an lành, không còn đói khát, than khóc, và cứ như thế hết ngày này sang ngày khác. Hình ảnh cổng thiên đàng đầy ngọc quý đối với tôi chỉ là nơi mà các ông chủ tiệm cầm đồ mơ ước được đặt chân đến. Chỉ những người chưa được đặt chân đến Tiffanys (một tiệm bán nữ trang đắt tiền ở New York) trên đời này thì mới mơ ước được vào một nơi sang trọng như thế ở đời sau!
Trong bài giảng, vị mục sư hỏi “Sống đời đời nghĩa là gì?” Và ông trả lời: “Sống đời đời không phải chỉ có nghĩa là sống mãi mãi. Sống đời đời là sống cao hơn đời sống thân xác: ăn, ngủ, sinh sản; có ý nghĩa hơn đời sống thế tục: đi làm, trả nợ, nuôi con ăn học.” Vị mục sư nói tiếp, “Có một sự sống cao quý hơn, trong đó con người hướng đến những giá trị tâm linh, đưa con người đến chỗ vị tha, sẵn sàng hy sinh cho người khác. Cuộc sống cao quý ấy liên quan đến những giá trị tâm linh, ý thức về huyền nhiệm của những giá trị đạo đức trong tâm hồn và thiên đàng chỉ là một phần của đời sống ấy. Đây là sự sống kéo dài mãi mãi và trên bình diện đó, đời đời nghĩa là đời đời thỏa mãn!”
Tôi tiếp tục trở lại nhà thờ đó mỗi tuần. Tôi trở lại để nghiên cứu, để học những điều đẹp đẽ và đơn thuần nhưng tuyệt vời cao siêu trong lời dạy của Đức Chúa Giê-xu. Cũng như sứ đồ Phao-lô ngày xưa, những chiếc vảy cá bắt đầu rớt ra khỏi mắt tôi. Tôi khám phá nhiều điều mới lạ trong Kinh Thánh như thể là tôi chưa được đọc Kinh Thánh bao giờ.
Tôi khám phá ra rằng, từ xưa đến giờ chưa có ai dám nói những lời như Chúa Giê-xu đã nói. Ngài nói Thượng Đế tức là Đức Chúa Cha, là Đấng biết rõ chính Ngài và hòa làm một với Ngài trong tình yêu và trong sự hiểu biết. Không một bậc thầy nào ở đời này hiểu biết và có mối quan hệ đặc biệt như thế đối với Thượng Đế. Chính vì sự hiểu biết và mối quan hệ mật thiết đó mà Chúa Giê-xu đã dám tuyên bố một cách mạnh mẽ rằng: “Ai thấy Ta là đã thấy Cha!”
Một điều khác cũng làm tôi ngạc nhiên vô cùng, đó là Thượng Đế mà Chúa Giê-xu mặc khải khác hẳn với Thượng Đế trong ý niệm sai lầm của con người. Lời cầu nguyện của Chúa Giê-xu trên cây thập tự cho tôi thấy một tình yêu mới: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết mình làm điều gì!” Lời đó trong cả lịch sử loài người chưa có ai dám nói, và nó đã bày tỏ Thượng Đế là Đấng tha thứ, không phải trên lý thuyết, nhưng tha thứ qua sự hy sinh cụ thể, rõ ràng của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Không một bậc thánh hiền nào có thể tuyên bố một câu đầy ý nghĩa như câu: “Nếu các ngươi làm việc này cho một người hèn mọn nhất của anh em ta, là đã làm cho chính mình Ta.” Chữ “Ta” trong câu này là hình ảnh của Thượng Đế ngồi ghế chánh án trong phiên tòa chung thẩm, nhưng lại đặc biệt lưu tâm đến những người nghèo đói, những góa phụ đáng thương và những trẻ mồ côi tàn tật. Tôi thầm nghĩ, Chúa Giê-xu nói câu này với tư cách của một bậc Thầy, một người có toàn quyền trên cõi sống và cõi chết. Bài học tình yêu, nhân từ, thương xót đã được cụ thể hóa trong chính cuộc đời của Ngài. Cũng vì thế bao nhiêu người đã đến với Ngài, không chỉ vì kính phục nhưng vì muốn tôn thờ Chúa. Cũng chính vì thế mà ánh sáng làm cho Thánh Phao-lô bị mù lòa trên đường đến thành Đa-mách đã tiếp tục soi đường dẫn lối cho con người qua bao nhiêu thế kỷ.
Dĩ nhiên tôi biết rằng, khi nói Thượng Đế là tình thương và tình thương đó sẽ biến thế giới con người trở nên tốt đẹp, thì những người theo chủ nghĩa duy vật ngày nay sẽ chế nhạo, vì họ cho rằng thế giới này chẳng qua chỉ là một mớ những hạt nhân nguyên tử, chạy theo những định luật vật lý mù quáng. Phúc Âm và tình thương của Thượng Đế cũng bị những người theo chủ nghĩa Mác-xít coi thường, xen lẫn sợ hãi, vì họ luôn chủ trương hận thù và bạo động.
Thật ra tôi nghĩ rằng, không có một lý thuyết nào trên đời này, kể cả thuyết nhân bản, có thể giúp con người chừa bỏ được tính thù ghét, bạo động, thủ đoạn và gian dối, ngoại trừ những lời dạy mạnh mẽ của Chúa Giê-xu. Cũng vì thế, nếu người Cộng Sản muốn tiến đến chỗ thành lập một xã hội vật chất vô thần, điều đầu tiên họ phải làm là phải tiêu diệt cho được lòng kính sợ Thượng Đế nơi con người! Do đó, Cơ Đốc nhân chân chính không thể là một người Cộng Sản, và ngược lại, một đảng viên Cộng Sản cũng không thể nào là môn đồ của Chúa Giê-xu được. Cho nên, tranh chấp giữa một xã hội vô thần với một xã hội đặt Thượng Đế làm chủ trong lòng người, là điều chắc chắn và dĩ nhiên.
Tôi không còn đặt câu hỏi: “Có tôn giáo nào có thể làm thỏa mãn tâm hồn con người của thời đại tân tiến này không?” bởi vì tôi biết là có. Trở về với Thánh Kinh, tôi thấy Thánh Kinh không chỉ là quyển sách ghi lại những dữ kiện lịch sử, nhưng cũng ghi lại sự mặc khải chính xác, qua Chúa Giê-xu; chính sự mặc khải đó đã đem Thượng Đế xuống ngang tầm mắt của tôi, để tôi có thể biết Ngài.
Tôi đi nhà thờ trở lại, và sung sướng được ngồi ở hàng ghế quen thuộc mỗi sáng Chúa Nhật. Tôi tin rằng chúng ta đi nhà thờ không phải vì chúng ta là người có tội; cũng không phải vì chúng ta là người đạo đức mẫu mực. Chúng ta đi nhà thờ vì ý thức được gia sản thiêng liêng của mình, vì nhận thức rõ giá trị cao quý của con người; cũng như vì biết rõ những thất bại và tính tự cao tự mãn cố hữu của con người. Nếu không nhờ vào một quyền lực mạnh mẽ từ bên ngoài, chúng ta có thể ngã trở lại vào cái hố tự cao tự mãn ấy một cách dễ dàng. Người nào muốn thấy được vẻ đẹp tuyệt vời và muốn kinh nghiệm được sức mạnh tinh thần trong lời dạy của Chúa Giê-xu, người ấy phải loại bỏ những sáo ngữ tôn giáo, là điều thường làm cho lời dạy của Chúa bị lu mờ.
Chính Chúa Giê-xu đã đơn giản hóa và đã cô đọng tất cả tinh hoa của Cơ Đốc giáo trong hai điều luật: kính Chúa, yêu người. Hai điều luật này đầy đủ hơn tất cả những niềm tin khác và bao gồm đầy đủ tất cả luật pháp và lời tiên tri, tức là cả bộ Thánh Kinh. Cuộc đời của Chúa Giê-xu và Phúc Âm của Ngài đã đem lại thỏa mãn cho tâm hồn tôi, sự thỏa mãn ấy cứ được tươi mới hơn mỗi ngày. Cả thế giới này cũng sẽ không tìm được sự thỏa mãn hoàn toàn cho tâm hồn nếu thiếu Chúa Giê-xu và Phúc Âm của Ngài.
Nhìn lại, tôi thấy suốt ba mươi năm qua tôi sống trên đời nầy như một trẻ mồ côi, nhưng bây giờ tôi không còn mồ côi nữa! Tôi bị trôi giạt đã lâu, nhưng nay tôi đã tìm được bến bờ. Buổi sáng Chúa Nhật tôi trở lại nhà thờ, cũng là ngày tôi trở về với mái nhà thân yêu.
Lâm Ngữ Đường
Tài liệu tham khảo:Kerr, Hugh T.; Mulder, John M. Conversions: The Christian Experience, William B. Eerdmans Publisher, 1985.
Lin, Yutang, From Pagan to Christian, World Publishing Company, 1959.

Nguồn: http://www.thuvientinlanh.org/
Xem tiếp…

Hans Robert Jauss

04:54 |
Hans Robert Jauss là nhà lí luận văn nghệ, nhà mĩ học người Đức, là người sáng lập chủ yếu và là một đại diện tiêu biểu của Mĩ học tiếp nhận. Công trình chủ yếu là: “Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với lí luận văn học”, “Sự thay đổi của mô hình văn học”, “Bàn về kinh nghiệm thẩm mĩ”, “Kinh nghiệm thẩm mĩ và thông diễn học văn học”…. Tư tưởng mĩ học của ông chia thành hai thời kì: Thời kì trước chủ yếu giải quyết “Khó khăn của văn học sử”, thời kì sau nghiêng sang kinh nghiệm thẩm mĩ.

1.    Lí luận văn nghệ

Trên cơ sở phê phán những người đi trước, muốn xây dựng khoa lịch sử văn học tương đối hoàn thiện, phêp hán việc phân tách, đối lập văn học và lịch sử xã hội, nhìn nhận lại vấn đề mĩ học và lịch sử văn học, giải quyết khó khăn của lịch sử văn học. Ông cho rằng tính lịch sử của văn học nên là quan hệ giữa lịch sử và mĩ học, điều tiết và dung hòa, phê phán quan điểm lịch sử văn học của chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa hình thức. Jauss đè xuất quan niệm lịch sử văn học mới, lịch sử văn học nên là lịch sử tiếp nhận tác phẩm văn học, đọc giả với tư cách là chủ thể tiếp nhận vô cùng năng động. thông qua “tầm đón nhận”, Jauss liên kết nhà văn, tác phẩm và độc giả, đồng thời làm rõ ự liên thông giữa diễn biến của văn học và sự phát triển của xã hội. “Tầm đón nhận” là sự mong chờ thẩm mĩ tiềm tại trong độc giả trước khi họ tiếp xúc với tác phẩm, là kết cấu tâm lí tiên nghiệm có được do tích lũy kinh nghiệm đọc. Jauss đề xướng “khách quan hóa” tác phẩm”, đề xướng “dung hợp tầm đón đợi lịch sử” và “tầm đón đợi thời đại”, cho rằng tác phẩm văn học không phải là văn bản tĩnh chỉ liên quan đến hiện tại, mà là văn bản động bao bồm bình giá văn học truyền thống và thưởng thức văn học đương thời, là “văn bản mở”. Chức năng xã hội của văn học nằm ở tính cấu thành, thông qua cải biến tầm đón nhận của độc giả, thực hiện sự thống nhất giữa hiệu văn học và tiếp nhận văn học, ý nghĩa, giá trị, hiệu của của văn học bao gồm những điều do tác giả gửi gắm, nội hàm của tác phẩm, và những gì độc giả phát hiện ra, lịch sử văn học chính là lịch sử tiếp nhận và lịch sử hiệu quả.


2.    Mĩ học tiếp nhận

Mĩ học tiếp nhận là trường phái nghiên cứu xuất hiện ở Đức vào cuối những năm 60 đầu những năm 70 của thế kỉ 20 ở Đức, do Hans Robert Jauss sáng lập. Tuy cơ sở lí luận của mĩ học tiếp nhận rất rộng, nhưng thông diễn học là một trong những cơ sở quan trọng nhất. Sáng tác nghiên cứu văn học, mĩ học trước đó đều lấy tác giả, người sáng tạo làm trung tâm, Jauss chủ trương đề xướng một xu hướng ngược lại là lấy đọc giả - sự tiếp nhận làm trung tâm, vì thế gọi là mĩ học tiếp nhận. Thời kì sau ông chuyển hướng nghiên cứu kinh nghiệm thẩm mĩ – một vấn đề hạt nhân của tiếp nhận và lịch sử tiếp nhận, cho rằng chỉ có nghiên cứu kinh nghiệm thẩm mĩ mới có thể thúc đẩy mĩ học tiếp nhận phát triển. Jauss cho rằng kinh nghiệm thẩm mĩ là một chỉnh thể hữu cơ động bao gồm phương diện sản xuất, phương diện tiếp nhận và phương diện giao tiếp, ba phương diện này tương ứng với ba phậm trù của khoái cảm thẩm mĩ: sáng tạo, mĩ giác và tĩnh hóa. Ông còn đề xuất 5 mô hình thưởng thức thẩm mĩ, đó là mô hình tác động tương hỗ giữa nhân vật và độc giả gồm liên tưởng tưởng, ngưỡng mộ, cảm thông, tĩnh hóa, phản phong. Con đường mĩ học tiếp nhận do ông khởi xướng và phát triển trở thành một trường phái trong giới phê bình hiện đại phương Tây, vẫn tiếp tục sửa đổi và phát triển.
3.       Cống hiến chủ yếu

Jauss là ngọn cờ đàu của trào lưu lí luận tiếp nhận, mục tiếp chủ yếu của lí luận tiếp nhận là xây dựng lịch sử văn học mới. Năm 1979 ông viết “Văn bản thi ca trong sự biến đổi tầm đón đợi đọc hiểu”, trong cuốn sách này ông lấy thông diễn học của Kadama làm cơ sở lí luận, sáng lập sách lược đọc hiểu thống nhất ba quá trình đọc hiểu gồm ba tầng cảm giác, giải thích, lịch sử. Sách lược đọc hiểu của Jauss chí ít cũng thu được một vài sự đột phá quan trọng ở một số phương diện. Đọc hiểu cảm giác của ông đã ngăn chặn xu thế dần dần biến mất của văn bản trong sự tiếp nhận vô cùng vô tận của lí luận độc giả mà Fish là đại diện. Tầm đón nhận của ông đã sáng lập nên loại hình độc giả mới. Lịch sử đọc hiểu của ông thể hiện phương diện mới – phương diện lịch sử của tác phẩm văn học.

Jauss và Iser là linh hồn của trường phái Mĩ học tiếp nhận Đức, họ đều nhấn mạnh vị trí của người tiếp nhận trong hoạt động văn học, coi hoạt động giao lưu văn học là trọng tâm nghiên cứu văn học. Nhưng trọng tâm nghiên cứu và lịch trình tư tưởng của hai người không hoàn toàn tương đồng. Nếu như Jauss chú trọng đến lịch sử hiệu quả của văn học và lịch sử tiếp nhận, sau đó nghiên cứu kinh nghiệm thẩm mĩ, coi lịch sử tiếp nhận là lịch sử kinh nghiệm thrm mĩ của nhân loại, thì Iser lại chú trọng nghiên cứu hành động đọc. Công trình tiêu biểu của Jauss là Hướng tới mĩ học tiếp nhận , Lịch sử văn học như là sự khiêu kích đối với lí luận văn học, Kinh nghiệm thẩm mĩ và giải thích học văn học, Tiếp nhận văn học và giao lưu văn học. Ngay từ sớm trong bài Lịch sử văn học như là sự khiêu kích đối với lí luận văn học ông đã xây dựng quan niệm về văn học sử và biên soạn văn học sử của mình. Jauss thống nhất nhân tố thẩm mĩ và nhân tố lịch sử trong lĩnh vực nghiên cứu văn học sử. Ông không hoàn toàn đồng ý với quan điểm của chủ nghĩa hình thức Nga và chủ nghĩa Mác. Ông cho rằng chủ nghĩa Mác quá chú trọng nhân tố lịch sử xã hội chế ngự văn học cho nên không quan tâm đúng mức tới tính lịch sử và tính độc lập của hình thức thẩm mĩ văn học. Ngược lại chỉ đơn thuần miêu tả diễn biến của hình thức văn học như chủ nghĩa hình thức Nga cũng không thể giúp chúng ta khái quát được lịch sử của tác phẩm văn học. Ông đã dung hòa quan niệm văn học sử của chủ nghĩa hình thức Nga và chủ nghĩa Mác. Đối với Jauss, độc giả trở thành nhân tố quan trọng trong quan hệ giữa văn học và lịch sử, và trong việc không ngừng tiếp nhận của người đọc, tác phẩm không ngừng thực hiện sự kế hợp giữa quá khứ và hiện tại, không ngừng có được sinh mệnh mới. Khái niệm quan trọng nữa của ông là khái niệm “tầm đón đợi”. Đây vốn là khái niệm được dùng trong giải thích học của Husserl và Gamdama, nó mang đến cho sự lí giải một góc nhìn, một cơ sở để tiếp nhận cái mới, phía sau nó là bối cảnh và truyền thống. Nếu tác phẩm vượt quá xa tầm đón đợi, độc giả sẽ khó tiếp nhận, nhưng nếu cự li giữa tầm đón đợi của độc giả và tác phẩm quá nhỏ, tác phẩm cũng thiếu sức hấp dẫn với độc giả. Đây là tư tưởng quan trọng gợi mở nhiều ý tưởng trong nghiên cứu tiếp nhận văn học nghệ thuật. Ông cũng đưa ra lí luận đọc hiểu vĩ mô. Ông hình dung hành động đọc chính là đối thoại theo hình thức hỏi đáp, là quá trình giao lưu, quá trình trùng cấu tầm đón đợi của quá khứ, và quá trình giao lưu, đối thoại mang đến cho tác phẩm sinh mệnh mới. “Lịch sử giải thích về một tác phẩm văn học chính là sự giao lưu kinh nghiệm, hoặc có thể nói là một trò chơi hỏi đáp, một cuộc đối thoại”(2), người đọc sẽ điều chỉnh tầm đón đợi, và quá trình đọc chính là quá trình điều chỉnh quan hệ giữa quá khứ và hiện tại, văn bản và độc giả. Giai đoạn sau, ông phát triển lí thuyết tiếp nhận của mình theo hướng lí thuyết kinh nghiệm thẩm mĩ, đây cũng là một bước tiến mới kết hợp giữa nghiên cứu văn học và nghiên cứu văn hóa, hình thành một giai đoạn mới trong nghiên cứu văn học. Jauss đặc biệt chú trọng giải trí thẩm mĩ và giao lưu thẩm mĩ, theo ông, loài người vì muốn giải trí nên tìm đến nghệ thuật, cho nên không nên tách bạch giải trí và nghệ thuật. Coi trọng chức năng giải trí chính là đáp ứng sự phát triển của thực tiễn và thúc đẩy hoạt động tiêu dùng văn học, liên kết văn học và văn hóa đại chúng. Ông cho rằng kinh nghiệm thẩm mĩ tồn tại trong sáng tác và tiếp nhận, cả người sáng tác và người đọc đều có được khoái cảm thẩm mĩ. Như vậy, có thể thấy Jauss nhấn mạnh chức năng chủ thể của người đọc, xem trọng vị trí của độc giả trong hoạt động văn học. Ông đã giải thích sự sinh thành của ý nghĩa tác phẩm văn học từ góc độ mới, lấy tầm đón đợi làm điểm xuất để phân tích kinh nghiệm thẩm mĩ, có những lí giải mới về mĩ cảm và giải trí trong kinh nghiệm thẩm mĩ. 
Xem tiếp…